Toggle

Chẩn đoán và điều trị thiếu máu
Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến bệnh thiếu máu?
This post is also available in: English

Bệnh thiếu máu khá thường gặp, thiếu máu nhẹ thường không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ qua kiểm tra sức khỏe hoặc xét nghiệm một bệnh lý khác. Thiếu máu nặng, nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe của bạn. Thông thường bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi khi gắng sức hoặc khi thực hiện các công việc hàng ngày, mất tập trung, da xanh xao nhợt nhạt.

Bạn đang xem: Nguyên nhân của bệnh thiếu máu

Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh thiếu máu. Ở các nước kém phát triển, thiếu máu do dinh dưỡng kém và thiếu vi chất là nguyên nhân thường gặp. Ở các vùng địa lý và chủng tộc đặc biệt, thiếu máu do khiếm khuyết gen di truyền chiếm tỷ lệ cao trong dân số. Ngoài ra, các nguyên nhân hiếm như ung thư hệ tạo máu hoặc ung thư đường tiêu hóa làm mất máu, gây thiếu máu rất trầm trọng.


Tìm hiểu những thông tin hữu ích về bệnh thiếu máu


Thiếu máu là bệnh gì?

Bệnh thiếu máu là tình trạng máu có số lượng hồng cầu thấp hơn so với bình thường.

Bệnh thiếu máu cũng có thể xảy ra nếu các hồng cầu không chứa đủ hemoglobin. Hemoglobin là một protein giàu chất sắt làm máu có màu đỏ. Protein này giúp các hồng cầu mang oxy từ phổi đến các phần còn lại của cơ thể.

Nếu bạn bị thiếu máu, cơ thể bạn không nhận được đủ máu giàu oxy khiến bạn cảm thấy mệt mỏi hoặc yếu. Bạn cũng có thể có các triệu chứng khác như khó thở, chóng mặt, hay nhức đầu.

Các loại khác của thiếu máu bao gồm:

Thiếu máu do thiếu B12;Thiếu máu do thiếu folate;Thiếu máu do thiếu sắt;Thiếu máu do bệnh mãn tính;Thiếu máu tán huyết;Thiếu máu bất sản vô căn;Thiếu máu hồng cầu khổng lồ;Thiếu máu ác tính;Thiếu máu hồng cầu hình liềm;Thiếu máu địa trung hải (Thalassemia).

Tại sao bạn nên quan tâm về bệnh thiếu máu?

Thiếu máu nặng hoặc kéo dài có thể tổn thương tim, não và các cơ quan khác trong cơ thể bạn. Thậm chí tình trạng thiếu máu rất nghiêm trọng có thể gây tử vong. Cùng tìm hiểu thiếu máu gây ra những bệnh gì cũng như nguyên nhân dẫn đến bệnh lý này. 

Những triệu chứng và dấu hiệu thiếu máu là gì?

Bạn có thể không có triệu chứng nếu thiếu máu nhẹ. Nếu bệnh phát triển chậm, các triệu chứng thiếu máu có thể xảy ra đầu tiên bao gồm:

Tâm trạng cảm thấy gắt gỏng;Cơ thể cảm thấy yếu hoặc mệt mỏi thường xuyên hơn so với bình thường, hoặc so với khi tập thể dục;Nhức đầu;Gặp vấn đề về tập trung hay suy nghĩ.

Nếu thiếu máu nặng hơn, các triệu chứng có thể bao gồm:

Màu xanh ở lòng trắng của mắt;Móng tay giòn;Ham muốn ăn đá hoặc những thứ phi thực phẩm khác (pica);Choáng váng nhẹ khi bạn đứng lên;Màu da nhợt nhạt;Khó thở;Đau lưỡi.

Dấu hiệu của bệnh thiếu máu


Một số loại thiếu máu có thể có các triệu chứng khác và dấu hiệu khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Nếu bạn có các dấu hiệu và triệu chứng được đề cập ở trên, hay có bất kỳ câu hỏi hoặc thắc mắc nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa và tình trạng bệnh lý có thể khác nhau ở nhiều người. Hãy luôn thảo luận với bác sĩ để được chỉ định phương pháp chẩn đoán, điều trị và xử lý tốt nhất dành cho bạn.

Nguyên nhân thiếu máu là gì?

Mặc dù nhiều bộ phận của cơ thể có thể tạo ra hồng cầu nhưng hầu hết các hồng cầu được tạo ra tại tủy xương. Tủy xương là mô mềm ở bên trong của xương là nơi sinh ra các tế bào máu.

Thông thường, đời sống các tế bào hồng cầu khỏe mạnh kéo dài từ 90 đến 120 ngày. Các cơ quan trong cơ thể sau đó loại bỏ các tế bào máu cũ. Một hormone gọi là erythropoietin (EPO) được tạo ra trong thận báo hiệu cho tủy xương tạo ra nhiều hồng cầu hơn.

Hemoglobin là protein vận chuyển oxy trong hồng cầu. Nó làm cho các hồng cầu có màu đỏ. Người bị thiếu máu không có đủ hemoglobin.

Cơ thể cần một số vitamin, khoáng chất và chất dinh dưỡng để đảm đủ tạo thành hồng cầu. Sắt, vitamin B12 và axit folic là ba trong số những yếu tố quan trọng nhất. Cơ thể có thể không có đủ các chất dinh dưỡng, bởi vì:

Những thay đổi trong niêm mạc dạ dày hoặc ruột ảnh hưởng đến các chất dinh dưỡng được hấp thụ (ví dụ như bệnh celiac);Chế độ ăn uống thiếu chất;Mất máu từ từ (ví dụ do các kỳ kinh nguyệt nặng hoặc loét dạ dày);Phẫu thuật loại bỏ một phần của dạ dày và ruột.

Nguyên nhân có thể gây thiếu máu bao gồm:

Một số thuốc;Sự tiêu hủy các hồng cầu sớm hơn bình thường (có thể gây ra bởi các vấn đề hệ thống miễn dịch);Các bệnh lâu dài (mãn tính) như bệnh thận, ung thư, viêm loét đại tràng, hay viêm khớp dạng thấp mãn tính;Một số dạng thiếu máu, chẳng hạn như thalassemia hoặc thiếu máu hồng cầu hình liềm bị di truyền;Mang thai;Vấn đề với tủy xương như u lympho, bệnh bạch cầu, loạn sản tủy, đau tủy, hoặc thiếu máu bất sản.

Bệnh nhân thiếu máu thường xuyên cảm thấy mệt mỏi


Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh thiếu máu?

Bạn sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh thiếu máu nếu bạn gặp những vấn đề sau:

Chế độ ăn thiếu một số vitamin nhất định: Một chế độ ăn uống thiếu chất sắt, vitamin B-12 và folate sẽ dễ làm tăng nguy cơ mắc bệnh thiếu máu;Rối loạn đường ruột: Tình trạng rối loạn đường ruột ảnh hưởng đến sự hấp thu các chất dinh dưỡng trong ruột non của bạn – chẳng hạn như bệnh celiac và bệnh Crohn – làm tăng nguy cơ mắc bệnh thiếu máu. Bên cạnh đó, các phẫu thuật cắt bỏ hoặc phẫu thuật đến các bộ phận ruột non của bạn, nơi các chất dinh dưỡng được hấp thụ, cũng có thể dẫn đến thiếu hụt chất dinh dưỡng và thiếu máu;Kinh nguyệt: Nói chung, phụ nữ chưa mãn kinh có nguy cơ bị thiếu máu do thiếu sắt cao hơn nam và phụ nữ sau mãn kinh. Đó là bởi vì kinh nguyệt gây ra sự mất mát các hồng cầu;Mang thai: Nếu bạn đang mang thai, bạn có nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt vì sắt dự trữ phải phục vụ cho khối lượng máu tăng lên cũng như là một nguồn hemoglobin cho em bé của bạn phát triển;Tiền sử gia đình: Nếu gia đình bạn có tiền sử thiếu máu di truyền, chẳng hạn như thiếu máu hồng cầu hình liềm, bạn cũng có thể có nguy cơ gia tăng tình trạng này;Các yếu tố khác: Một tiền sử nhiễm trùng, bệnh về máu và các rối loạn tự miễn, nghiện rượu, tiếp xúc với hóa chất độc hại, và sử dụng một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến sản xuất tế bào hồng cầu và dẫn đến thiếu máu.

Chẩn đoán và điều trị thiếu máu

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán bệnh thiếu máu?

Để chẩn đoán thiếu máu, bác sĩ có thể sẽ kiểm tra máu của bạn. Nếu bạn bị thiếu máu, bác sĩ có thể cần phải làm các xét nghiệm khác để tìm hiểu nguyên nhân gây ra nó.

Thiếu máu đẳng bào được phát hiện bởi các xét nghiệm thông thường là một phần của kiểm tra sức khỏe. Bệnh thiếu máu có thể được phát hiện tình cờ bằng một xét nghiệm máu cho một bệnh lý khác. Xét nghiệm máu toàn bộ (còn được gọi là CBC) có thể cho thấy bạn bị thiếu máu hồng cầu hay không.

Nếu xét nghiệm máu toàn bộ của bạn cho thấy một số lượng thấp của các hồng cầu kích thước bình thường, bác sĩ có thể muốn bạn thực hiện thêm các xét nghiệm để xem nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu máu. Nếu bạn bị thiếu máu bẩm sinh, các thành viên khác trong gia đình cũng có thể cần phải kiểm tra.

Xét nghiệm máu để chẩn đoán một số loại phổ biến của tình trạng thiếu máu có thể bao gồm:

Số lượng hồng cầu và nồng độ hemoglobin;Số lượng hồng cầu lưới.

Các xét nghiệm khác có thể được thực hiện để tìm ra các vấn đề y tế có thể gây thiếu máu.

Những xét nghiệm y tế khác có thể giúp chẩn đoán là gì?

Nếu bạn nhận được chẩn đoán thiếu máu, bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm thêm để xác định các nguyên nhân cơ bản.

Ví dụ, thiếu máu do thiếu sắt có thể do chảy máu mãn tính từ các ổ loét, polyp đại tràng lành tính, ung thư đại tràng, khối u hoặc các vấn đề về thận.

Thỉnh thoảng, có thể cần thiết đánh giá một mẫu tủy xương của bạn để chẩn đoán thiếu máu.

Những phương pháp nào dùng để điều trị bệnh thiếu máu?

Điều trị bệnh thiếu máu cần được hướng vào các nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu máu, và có thể bao gồm:

Truyền máu;Corticosteroid hoặc các loại thuốc khác ức chế hệ miễn dịch;Erythropoietin, một loại thuốc giúp tủy xương tạo ra nhiều tế bào máu hơn;Bổ sung sắt, vitamin B12, acid folic, hoặc vitamin và khoáng chất khác.
*

Truyền máu là một trong những phương pháp điều trị bệnh thiếu máu


Những biến chứng có thể xảy ra của bệnh thiếu máu là gì?

Nếu không điều trị, thiếu máu có thể gây ra nhiều biến chứng, bao gồm:

Mệt mỏi nghiêm trọng. Khi thiếu máu nghiêm trọng, bạn có thể mệt mỏi đến nỗi bạn không thể hoàn thành công việc hàng ngày. Bạn có thể kiệt sức để làm việc hay chơi.Vấn đề về tim. Thiếu máu có thể dẫn đến tim đập nhanh hoặc không đều (rối loạn nhịp tim). Trái tim của bạn phải bơm nhiều máu hơn để bù đắp cho sự thiếu oxy trong máu khi bạn đang bị thiếu máu. Điều này thậm chí có thể dẫn đến suy tim sung huyết.Tử vong. Một số thiếu máu di truyền, chẳng hạn như thiếu máu hồng cầu hình liềm, có thể nghiêm trọng và dẫn đến những biến chứng đe dọa tính mạng. Mất quá nhiều máu sẽ nhanh chóng dẫn đến thiếu máu cấp tính nặng và có thể gây tử vong.

Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến bệnh thiếu máu?

Thông thường, bạn có thể điều trị và kiểm soát thiếu máu. Nếu bạn có dấu hiệu hoặc triệu chứng của thiếu máu, tìm kiếm chẩn đoán và điều trị kịp thời. Điều trị có thể làm tăng mức năng lượng và hoạt động của bạn, cải thiện chất lượng sống của bạn, và giúp bạn sống lâu hơn.

Nếu được điều trị thích hợp, nhiều loại thiếu máu là nhẹ và ngắn hạn. Tuy nhiên, tình trạng thiếu máu có thể nghiêm trọng, lâu dài, hoặc thậm chí gây tử vong khi nó được gây ra bởi một căn bệnh di truyền hoặc mãn tính hoặc chấn thương.

Chọn một chế độ ăn uống giàu vitamin

Nhiều loại bệnh thiếu máu thiếu sắt không thể phòng ngừa được. Tuy nhiên, bạn có thể tránh thiếu máu do thiếu sắt và thiếu máu do thiếu vitamin bằng cách chọn một chế độ ăn uống bao gồm nhiều loại vitamin và các chất dinh dưỡng, bao gồm:

Sắt: Các loại thực phẩm giàu chất sắt có trong thịt bò và các loại thịt khác, đậu, đậu lăng, ngũ cốc tăng cường chất sắt, các loại rau lá xanh đậm, và trái cây khô.Folate: Chất dinh dưỡng này, và dạng acid folic tổng hợp của nó, có thể được tìm thấy trong trái cây và nước trái cây, chuối, các loại rau lá xanh đậm, các loại đậu, và tăng cường bánh mì, ngũ cốc và mì ống.Vitamin B-12: Vitamin này được tìm thấy tự nhiên trong thịt và các sản phẩm từ sữa. Nó cũng thêm vào một số loại ngũ cốc và các sản phẩm từ đậu nành như sữa đậu nành.Vitamin C: Thực phẩm có chứa vitamin C – chẳng hạn như trái cây họ cam quýt, dưa hấu và quả mọng – sẽ giúp bạn tăng hấp thu sắt.
*

Duy trì chế độ dinh dưỡng nhiều vitamin và khoáng chất


Bên cạnh đó, hãy xem xét tư vấn di truyền, nếu bạn có tiền sử gia đình thiếu máu.

Tại Việt Nam, thiếu máu thiếu sắt ở đối tượng phụ nữ trẻ rất phổ biến. Do đó, việc bổ sung vi chất như sắt và vitamin B12 trong chế độ ăn là điều cần thiết để phòng ngừa thiếu máu thiếu sắt cho phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, đặc biệt là khi đang mang thai. Còn đối với trẻ em, khi thiếu máu cần xem xét nguyên nhân nhiễm giun, bệnh lý rối loạn hấp thu hoặc các bệnh lý thiếu máu di truyền, miễn dịch.

Người trưởng thành và người cao tuổi khi phát hiện thiếu máu thiếu sắt cần tầm soát nguyên nhân mất máu qua đường tiêu hóa, thiếu máu trong trường hợp này có thể là một triệu chứng diễn tiến của ung thư dạ dày hoặc ung thư đại trực tràng.

Không nên lơ là khi thiếu máu vì có thể là hậu quả của nhiều bệnh lý trầm trọng, do đó bạn hãy trao đổi với bác sĩ ngay khi phát hiện thiếu máu để có hướng điều trị kịp thời.

Nếu bạn có tiền sử gia đình của thiếu máu di truyền, chẳng hạn như thiếu máu hồng cầu hình liềm hay thalassemia, hãy nói chuyện với bác sĩ hoặc nhân viên tư vấn di truyền về nguy cơ và những rủi ro bạn có thể di truyền bệnh cho con bạn.

Pacific Cross Việt Nam cung cấp các chương trình bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm du lịch phù hợp với từng yêu cầu và ngân sách của khách hàng. Cho dù là chương trình bảo hiểm cho cá nhân bạn, cho gia đình bạn hoặc doanh nghiệp của bạn, chúng tôi ở đây để đảm bảo rằng bạn nhận được sản phẩm bảo hiểm tốt nhất.

Thiếu máu não là một cơ chế hay gặp do tổn thương não cấp tính do lưu lượng máu đến não bị suy giảm. Thiếu máu lên não là một trường hợp cấp cứu y tế; nếu không được điều trị, khả năng cao sẽ xảy ra nhồi máu não hoặc bệnh lý tại não bộ do thiếu oxy, thiếu máu cục bộ toàn bộ. Từ đó người bệnh có thể tử vong hoặc có nguy cơ tàn tật vĩnh viễn.

*

Thiếu máu não hay thiếu máu lên não là hiện tượng lượng máu lưu thông lên não không đủ. Triệu chứng thiếu máu não ban đầu chỉ là đau đầu, ù tai, chóng mặt,… thoáng qua nên người bệnh thường chủ quan. Nếu không kịp thời chẩn đoán và điều trị, bệnh thiếu máu não có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như: suy giảm chức năng não, chết tế bào não, mất trí nhớ, tai biến mạch máu não,… (1)

Bộ não con người là một cơ quan hoạt động trao đổi chất cao, chiếm khoảng 25% nhu cầu trao đổi chất của một người, mặc dù chỉ chiếm 2,5% trọng lượng cơ thể của một cá nhân điển hình. Do đó, não cực kỳ nhạy cảm với sự gián đoạn lưu lượng máu. Cơ chế cân bằng nội môi phức tạp có hoạt động duy trì lưu lượng máu não thông qua quá trình tự điều hòa mạch máu não với tốc độ ổn định khoảng 50 ml/100g mô não mỗi phút. Khi lưu lượng máu này bị tổn hại, sẽ dẫn đến thiếu máu lên não, đây chính một trong các cơ chế tổn thương não và rối loạn chức năng phổ biến nhất. Mức độ tổn thương tế bào thần kinh do tưới máu não bị tổn thương phụ thuộc vào cả mức độ và thời gian giảm tưới máu.


Mục lục

Thiếu máu não là gì?
Triệu chứng thiếu máu não
Chế độ dinh dưỡng cho người mắc dấu hiệu thiếu máu não

Thiếu máu não là gì?

Thiếu máu não có thể toàn bộ hoặc cục bộ. Thiếu máu lên não toàn bộ là hậu quả của quá trình bệnh toàn thân, thường gây sốc.

Thiếu máu não toàn bộ

Hạ huyết áp toàn thân là nguyên nhân phổ biến gây nên thiếu máu não toàn bộ. Giảm tưới máu não thoáng qua có thể xảy ra khi cơ chế tự trị và thần kinh thể dịch kiểm soát huyết áp và nhịp tim bị gián đoạn, như trong hội chứng ngất vasovagal và nhịp tim nhanh tư thế. Nguyên nhân thường gặp thứ 2 của bệnh thiếu máu não toàn bộ thoáng qua chính là các vấn đề về chức năng và cấu trúc của tim (đặc biệt là rối loạn nhịp tim). Khi hiệu ứng thoáng qua, tình trạng này thường biểu hiện dưới dạng tiền ngất hoặc ngất. Mặt khác, thiếu máu toàn bộ kéo dài có thể dẫn đến tổn thương thần kinh vĩnh viễn. 

Thiếu máu não cục bộ

Ngược lại, thiếu máu cục bộ não cục bộ thường phát sinh do tắc nghẽn lưu lượng máu động mạch đến não, thường là kết quả của huyết khối hoặc tắc mạch. Nếu thiếu máu lên não cục bộ kéo dài đủ lâu, tình trạng mất đi các tế bào thần kinh sẽ xảy ra, dẫn đến tình trạng đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Thiếu máu cục bộ còn xảy ra khi có huyết khối hình thành từ động mạch cảnh trong bị hẹp hoặc mảng xơ vữa động mạch não. Ngoài ra nguyên nhân phổ biến nhất gây nên tình trạng thiếu máu cục bộ não (chiếm đến 60 – 70% tỷ lệ trường hợp thiếu máu lên não thoáng qua và đột quỵ) chính là thuyên tắc cục máu đông (trong tim hoặc động mạch lớn). Thuyên tắc do vật liệu khác, chẳng hạn như chất béo, , nước ối trong khi mang thai, có thể xảy ra nhưng ít gặp hơn nhiều.

Thiếu máu cục bộ não theo nghĩa rộng có thể là cục bộ hoặc nhiều ổ, gây ra bởi sự bít đột ngột hoặc giảm đường kính rõ rệt của động mạch cung cấp máu cho một vùng não, có thể là động mạch bị hẹp trước đó hoặc động mạch bình thường (tức là động mạch chủ, thân trên động mạch chủ hoặc động mạch nội sọ). ). Thiếu máu cục bộ não thường có thể được kích hoạt do thiếu nguồn cung cấp máu não toàn bộ, nguyên nhân gần hơn là rối loạn chức năng huyết động gây ra tụt huyết áp đột ngột. 

Mô não thiếu máu cục bộ ngừng hoạt động trong vài giây và bị hoại tử ngay sau 5 phút sau khi thiếu hoàn toàn oxy và glucose, so với 20-40 phút ở các bộ phận khác của cơ thể. Một số khu vực đặc biệt dễ bị thiếu máu cục bộ, một hiện tượng được gọi là tổn thương chọn lọc. 

Dịch tễ học 

Đột quỵ là một trong những bệnh mạch máu phổ biến nhất trên thế giới và liên tục được xếp hạng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 5 tại Hoa Kỳ. Báo cáo AHA năm 2019 về số liệu thống kê về bệnh tim và đột quỵ ước tính rằng 20 triệu người Mỹ trên 20 tuổi đã bị đột quỵ. Khoảng 795.000 người bị đột quỵ mỗi năm. Tỷ lệ đột quỵ tăng theo độ tuổi, với gần 75% trường hợp ảnh hưởng đến những người trên 65 tuổi. Tỷ lệ đột quỵ ở người Mỹ gốc Phi và người gốc Tây Ban Nha cao hơn người da trắng. Tỷ lệ đột quỵ gần như giống nhau ở cả nam và nữ, trong đó nữ chiếm ưu thế hơn một chút do tỷ lệ này giảm ở nam trong 15 năm qua. (2)

Đột quỵ là một thuật ngữ rộng bao gồm tổn thương thần kinh do bất kỳ nguyên nhân mạch máu nào. Đột quỵ do thiếu máu cục bộ là loại phổ biến nhất, chiếm 87% tổng số ca đột quỵ. Chúng được gây ra bởi thiếu máu cục bộ cấp tính của một vùng não được cung cấp bởi một động mạch (thiếu máu cục bộ cục bộ) và là một trong những nguyên nhân chính gây ra tàn tật và tử vong ở Hoa Kỳ và thế giới. Ngất, hậu quả của thiếu máu cục bộ tạm thời lên toàn bộ não (thiếu máu cục bộ toàn bộ), là một trong những “triệu chứng” phổ biến nhất trong mọi quần thể. Vì vậy, thiếu máu não là một trong những nguyên nhân gây tàn tật phổ biến nhất trên thế giới.

Đối tượng thiếu máu lên não ngày càng có xu hướng trẻ hóa

Triệu chứng thiếu máu não

Các triệu chứng thiếu máu não có thể từ nhẹ đến nặng, kéo dài trong thời gian ngắn (từ vài giây đến vài phút). Nếu triệu chứng thiếu máu não cục bộ ngắn có thể tự khỏi trước khi xuất hiện nhồi mối thì được gọi là thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA).

Khi não bộ bị tổn thương do tình trạng thiếu máu não cục bộ gây nên, các triệu chứng có thể sẽ xuất hiện vĩnh viễn, bao gồm:

Suy nhược cơ thể: Ở 1 bên hoặc cả 2 bên của cơ thể. Mất cảm giác hoàn toàn: Ở 1 bên hoặc cả 2 bên của cơ thể. Thường xuyên mất phương hướng, nhầm lẫn các vấn đề đơn giản trong cuộc sống. Thay đổi hoặc giảm thị lực tại 1 mắt hoặc cả 2 mắt. Nhìn đôi: Thường xảy ra khi mắt bị lệch hoặc không hướng vào cùng một vật thể, khiến chúng ta nhìn thấy hai hình ảnh khác nhau. Cả hai hình ảnh đều được gửi đến não mà chúng ta xử lý dưới dạng nhìn đôi. Nói lắp bắp. Mất hoặc giảm ý thức. Suy giảm khả năng phối hợp, giữ thăng bằng.

Ngoài ra, đau đầu và chóng mặt hoa mắt cũng là triệu chứng thiếu máu não thường gặp, đồng thời dễ nhầm lẫn với triệu chứng của các bệnh lý khác.

Đau đầu

Đây là triệu chứng thường gặp ở bất kỳ ai, bất kỳ độ tuổi nào. Đau đầu có thể do nhiều nguyên nhân: căng thẳng kéo dài, mất ngủ, cường độ làm việc cao,… Tuy nhiên, đau đầu cũng là dấu hiệu điển hình của hiện tượng thiếu máu não. Đau đầu do thiếu máu não thường bắt đầu từ cảm giác đau nhói ở một vùng cố định trên đầu, sau đó sẽ lan khắp đầu. Để biết chính xác tình trạng đau đầu của bản thân có phải là dấu hiệu của bệnh thiếu máu não không, hãy thăm khám trực tiếp với bác sĩ.

Chóng mặt hoa mắt

Giống như đau đầu, chóng mặt hoa mắt là triệu chứng phổ biến ở nhiều đối tượng và có tần suất xảy ra thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày. Vì tần suất xuất hiện thường xuyên nên dấu hiệu này thường không phải là vấn đề quá nghiêm trọng. Thế nhưng nếu tình trạng này xảy ra một cách đột ngột khi cơ thể bình thường có thể là dấu hiệu của thiếu máu lên não. 

Những dấu hiệu thiếu máu não thường gặp chính là: đau đầu, chóng mặt hoa mắt, chân tay tê mỏi, thị lực suy giảm, mất ngủ,….

Nguyên nhân thiếu máu não

Có 3 nhóm nguyên nhân thiếu máu não chủ yếu bao gồm: (3)

Thiếu máu lên não do huyết khối: Đây là tình trạng hình thành cục máu đông ở các nhóm động mạch lớn (động mạch não giữa, động mạch đốt sống, động mạch cảnh trong,…). Việc hình thành cục máu đông này chủ yếu do hiện tượng xơ vữa động mạch gây ra. Thiếu máu lên não do thuyên tắc: Các cục máu động được hình thành từ vị trí khác đã di chuyển đến não gây tắc mạch. Thuyên tắc có nguồn gốc từ các bệnh lý về tim mạch như: nhồi máu cơ tim, bệnh về van tim, rung nhĩ,… Thiếu máu lên não huyết động: Những bệnh lý ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của máu: rối loạn đông máu, hạ huyết áp,…

Ngoài những nguyên nhân từ các bệnh lý nêu trên, nguyên nhân dẫn đến bệnh thiếu máu lên não có thể xuất phát từ thói quen sống không lành mạnh:

Lạm dụng thuốc lá, rượu bia, chất kích thích,… Ít vận động, lười tập thể dục. Thường xuyên ăn uống thực phẩm nhiều dầu mỡ, chất béo, ít chất xơ. Thói quen gối đầu quá cao khi ngủ gây cản trở quá trình vận chuyển máu lên não. Căng thẳng kéo dài, làm việc trên máy tính quá lâu. Nguyên nhân thiếu máu não có thể đến từ các bệnh lý tim mạch, mạch máu hoặc từ lối sống không lành mạnh

Ai dễ bị tình trạng thiếu máu não?

Triệu chứng thiếu máu não thường gặp ở đối tượng người cao tuổi, người mắc nhiều bệnh lý mãn tính: tim mạch, tiểu đường, huyết áp,… tuy nhiên, đối tượng bị thiếu máu não ngày càng trẻ hóa. Cụ thể, đối tượng là người trẻ là nhân viên văn phòng, quản lý cấp cao, phụ nữ nội trợ,… với tính chất công việc có cường độ căng thẳng cao cũng rất dễ mắc phải chứng thiếu máu lên não. Ngoài ra, người có lối sống thụ động, sống trong điều kiện môi trường ô nhiễm, chế độ ăn uống không đa dạng lành mạnh,… cũng là đối tượng dễ mắc phải bệnh lý này.

Bệnh thiếu máu não có nguy hiểm không?

Theo WHO, thiếu máu não là nguyên nhân dẫn đến tử vong cao thứ 3 xếp sau ung thư và bệnh tim mạch. Não bộ cần tiêu thụ đến 20% dưỡng khí từ cơ thể, vì vậy tình trạng thiếu oxy lên não thuộc tình trạng rất nguy hiểm. Chỉ với 10 giây không nhận được lượng máu cần thiết các mô não sẽ rơi vào rối loạn, tình trạng này kéo dài vài phút sẽ khiến tế bào thần kinh chết dần.

Thiếu máu lên não không chỉ gây ảnh hưởng cho hoạt động hàng ngày của người bệnh mà còn dẫn đến nguy cơ đột quỵ. Hàng năm tại Việt Nam có khoảng 200.000 trường hợp đột quỵ, trong đó tỷ lệ tử vong chiếm khoảng 50%. Người bệnh may mắn sống sót sau đột quỵ phải sống chung với di chứng nghiêm trọng: mất giọng, suy giảm trí nhớ, liệt một bên hoặc toàn thân,… Mức độ nguy hiểm của thiếu máu lên não được đánh giá dựa vào nguyên nhân, mức độ của bệnh và tình trạng sức khỏe tổng quát của người bệnh. Chính vì vậy, để giảm thiểu độ nguy hiểm của bệnh thiếu máu não, người bệnh cần nhanh chóng đến bệnh viện để thăm khám khi cơ thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh.

Cách chẩn đoán thiếu máu não

Đánh giá ban đầu của các triệu chứng gợi ý thiếu máu não nên bao gồm các xét nghiệm cơ bản, bao gồm đường huyết, công thức máu toàn phần, hóa học, các yếu tố đông máu, điện tâm đồ và men tim. 

Nên chụp CT đầu không cản quang để loại trừ xuất huyết hoặc tổn thương khối. Hình ảnh mạch máu, chẳng hạn như chụp CT-angiogram hoặc MR-angiogram, có thể rất có giá trị trong bối cảnh cấp tính. Hình ảnh mạch máu có thể giúp xác định nguyên nhân đột quỵ, đặc biệt trong trường hợp xơ vữa động mạch lớn; trong trường hợp tắc mạch máu lớn cấp tính, có thể thấy rõ vị trí tắc mạch máu.

Thông thường trong bối cảnh đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính, CT đầu không cản quang có thể không cho thấy bất thường rõ ràng nào, đặc biệt nếu bệnh nhân xuất hiện sớm trong quá trình bệnh. Trong trường hợp này, tưới máu MRI hoặc CT có thể có giá trị để xác định khả năng tồn tại của mô thiếu máu cục bộ. Bởi vì số phận của mô thần kinh thiếu máu cục bộ phụ thuộc vào cả mức độ và thời gian thiếu máu cục bộ, bệnh nhân bị thiếu máu não cục bộ cấp tính thường có một vùng mô não bị nhồi máu (nhồi máu lõi) được bao quanh bởi một vùng não thiếu máu cục bộ lớn hơn mà có thể vẫn còn. khả thi. Khu vực có khả năng tồn tại này được gọi là vùng tranh sáng tranh tối. Đã có nhiều nghiên cứu trong thập kỷ qua liên quan đến các phương thức chụp ảnh thần kinh để xác định thể tích vùng nửa tối do thiếu máu cục bộ.

Chẩn đoán phân biệt đối với các triệu chứng giống như đột quỵ do thiếu máu cục bộ, bao gồm: hạ đường huyết, mất cân bằng điện giải như hạ natri máu, sử dụng ma túy, nhiễm trùng bao gồm viêm màng não, ngất do tim, TIA, viêm mạch, đau nửa đầu, khối u, xuất huyết não và co giật.

Xem thêm: Ngô Thanh Vân Và Chồng - Cuộc Sống Bình Yên Của Trẻ Kém 11 Tuổi

Để có thể chẩn đoán tình trạng thiếu lên máu não chính xác, người bệnh cần đến cơ sở y tế để thăm khám trực tiếp với bác sĩ. Bác sẽ thăm khám và chỉ định người bệnh thực hiện một số xét nghiệm lâm sàng, dựa vào đó đưa ra chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh.

Khi đến bệnh viện thăm khám, bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện các xét nghiệm lâm sàng để chẩn đoán bệnh thiếu máu não

Cách điều trị thiếu máu não

Để có thể điều trị bệnh thiếu máu não hiệu quả, người bệnh cần đến thăm khám tại cơ sở y tế sớm, ngay khi cảm thấy bản thân thường xuyên có dấu hiệu của bệnh. Một số loại thuốc điều trị hiện tượng thiếu máu lên não có tác dụng chủ yếu làm tăng lưu lượng máu dẫn lên não. Người bệnh cần tuân thủ theo phác đồ sử dụng thuốc điều trị từ bác sĩ và cần kiên trì để đạt hiệu quả tốt nhất. Đặc biệt, người bệnh tuyệt đối không được tự ý sử dụng thuốc điều trị hoặc thuốc đông y không rõ nguồn gốc khi chưa có chỉ định từ bác sĩ. 

Kết hợp với phác đồ điều trị bằng thuốc từ bác sĩ, người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, tránh xa các tác nhân gây nên triệu chứng thiếu máu não để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất. 

Để sớm chẩn đoán và điều trị thiếu máu lên não cũng như các bệnh lý thần kinh khác, người bệnh có thể đặt lịch khám với bác sĩ chuyên khoa Nội Thần kinh tại Trung tâm Thần kinh, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, tại: