Thực hiện theo chỉ thị của ngành: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Nhưng làm sao để phát huy tính tích cực của học sinh đang là vấn đề lớn cần giải quyết.

Bạn đang xem: Dạy học giải quyết vấn đề trong môn sinh

 Thực tế giảng dạy đã cho thấy rằng chỉ khi nào học sinh tích cực chủ động tiếp thu kiến thức thì kết quả giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh mới đạt kết quả cao nhất.

 Vậy làm thế nào để phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập? Đây là vấn đề không hề đơn giản nhưng lại rất cấp thiết trong thực tế giảng dạy hiện nay.

Sinh học là một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm. Trong quá trình giảng dạy giáo viên thường sử dụng phương pháp quan sát, thí nghiệm, vấn đáp để giúp học sinh tìm ra kiến thức. Sinh học lớp 8 chủ yếu nghiên cứu về cơ thể người. Nếu sử dụng phương pháp dạy học đó để truyền đạt kiến thức cho học sinh thì hiệu quả giảng dạy đôi khi chưa cao. Vậy giáo viên phải kết hợp sử dụng phương pháp như thế nào để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng và cảm thấy thích thú học tập bộ môn? Qua bảy năm giảng dạy, tôi nhận thấy việc sử dụng phương pháp dạy học “đặt và giải quyết vấn đề” vào bài giảng Sinh học 8 sẽ giúp học sinh tích cực hơn, thích thú hơn khi tiếp thu kiến thức vì nó kích thích tính tò mò muốn hiểu biết, khám phá những vấn đề có liên quan đến chính bản thân mình.

 


33 trang | Chia sẻ: sangkien | Lượt xem: 13228 | Lượt tải: 7Download

ức không đủ để thỏa mãn nhu cầu nhận thức. Phản ứng định hướng của chủ thể nhận thức xuất hiện nhờ vào việc phân tích tình huống xảy ra. Sự phân tích đó giúp thiết lập được mối quan hệ giữa kiến thức và kinh nghiệm đã có với những mối liên hệ bên trong đối tượng nhận thức và kết quả hình thành được vấn đề hay đạt được vấn đề để giải quyết. Nếu chủ thể nhận thức là học sinh thì đó chính là vấn đề học tập. Các điều kiện tạo tình huống có vấn đề: Trong tình huống có vấn đề phải vạch ra được điều chưa biết, điều mới trong mối quan hệ với cái đã biết. Trong đó, cái mới phải lọt vào nhu cầu mới biết nhận thức, tạo ra tính tự giác tìm tòi của học sinh. Điều cần nhấn mạnh là khi tạo tình huống, giáo viên phải cân nhắc tỉ lệ hợp lí giữa cái đã biết và cái chưa biết. Tình huống đặt ra phải phù hợp với khả năng của học sinh. 3.2 Các bước của phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: a.Đặt vấn đề: Nêu ra các hiện tượng, sự kiện mâu thuẫn với tri thức đã có bằng lời giảng của thầy, bằng kinh nghiệm, biểu diễn mẫu vật, bài toán chủ thể nhận thức va chạm với mâu thuẫn khách quan, kết quả chủ thể biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan. b.Giải quyết vấn đề: Lôgic của các bước giải quyết vấn đề được thể hiện qua việc nêu giả thuyết, vạch kế hoạch giả thuyết, chứng minh giả thuyết. Đây là khâu quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề. Bước này huy động được tối đa tính tìm tòi, sáng tạo của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề, bộ phận có thể do từng cá nhân thực hiện hoặc thảo luận theo nhóm. Giáo viên theo dõi tiến trình giải quyết vấn đề của học sinh để khi cần thiết có hướng dẫn, gợi ý và cuối cùng tổng hợp lại toàn bộ kết quả xung quanh khu vực giải quyết vấn đề chính. c.Kiểm tra cách giải quyết, kết luận vấn đề: Sau khi giải quyết vấn đề, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh kết quả đạt được với giả thuyết, nếu phù hợp học sinh đi đến kết luận vấn đề, nếu không phù hợp phải đặt giả thuyết khác và giải quyết bằng một cách khác. Khi vấn đề đã được kết luận, tri thức mới mà học sinh lĩnh hội được từ việc giải quyết vấn đề sẽ được vận dụng để giải quyết vấn đề có liên quan.3.3 Các cấp độ của dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thực hiện ở các mức độ cao thấp khác nhau, tùy theo trình độ tham gia của học sinh vào việc giải quyết các vấn đề nhận thức.+ Mức độ thứ nhất: giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết, học sinh thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên. + Mức độ thứ hai: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết. + Mức độ thứ ba: Giáo viên cung cấp thông tin, tạo tình huống, học sinh phát hiện nhận dạng và tự lực đề ra cách giải quyết. + Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng lựa chọn vấn đề phải giải quyết, tự đề xuất ra giả thuyết, xây dựng kế hoạch giải và thực hiện kế hoạch giải. Trong thực tế giảng dạy để áp dụng phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề hiệu quả nhất ta thường áp dụng ở mức hai và ba. Bởi vì ở hai mức độ này phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh3.4 Áp dụng giải pháp: Nội dung những vấn đề, những tình huống giáo viên đưa ra phải phù hợp với nội dung bài học, phải gần gũi với thực tế cuộc sống từ mức độ dễ đến khó, có như vậy mới phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, mới kích thích sự sáng tạo, lòng say mê học tập ở học sinh. Những vấn đề đưa ra phải có hướng giải quyết phù hợp, tránh những vấn đề giải quyết theo kiểu đúng sai Nội dung những vấn đề, những hiện tượng đặt ra cần phải kết thúc bằng các câu hỏi : Em giải thích vấn đề đó như thế nào? Tại sao lại như vậy? Tại sao lại có vấn đề đó? . Đó là hàng loạt những vấn đề, những hiện tượng đưa ra mà học sinh cần phải giải quyết để các em đi sâu tìm hiểu. Cuối cùng nếu như học sinh chưa giải quyết được vấn đề thì giáo viên cần định hướng cụ thể, rõ ràng cho học sinh tự giải quyết. Tránh tình trạnhg giáo viên trình bày sẵn cho học sinh ngồi tiếp thu Để giúp học sinh tích cực hứng thú hơn khi đi sâu tìm hiểu hay giải quyết vấn đề nào đó, giáo viên cần phải huy động vai trò, khả năng chủ động của học sinh trước vấn đề, tình huống đã đặt ra + Những tình huống giáo viên đưa ra phải được giải thích trên cơ sở khoa học + Những vấn đề đưa ra phải thực tế và có liên quan đến chính đời sống hay bản thân học sinh mà các em có nhu cầu giải quyết + Giáo viên phải có nhận xét đánh giá cụ thể những ý kiến, những giải thích của học sinh 3.5 Các bài dạy cụ thể : a.Đối với bài dạy kiến thức giải phẩu hình thái: Bài 13: “MÁU VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG CƠ THỂ”. * Vấn đề 1: Tìm hiểu thành phần cấu tạo của máu + Đặt vấn đề: Chúng ta ai cũng đã biết về máu. Máu có đặc điểm cấu tạo như thế nào? Để biết được điều này. Ta đi vào phần 1 “Tìm hiểu thành phần cấu tạo của máu”: + Giải quyết vấn đề: -GV: Cho học sinh quan sát Hình 13.1 và mẫu máu GV đã chuẩn bị:Để lắng động tự nhiên 3-4giờH13.1:Thí nghiệm tìm hiểu thành phần cấu tạo của máu
Mảnh chất tế bào của tế bào sinh tiểu cầu
Trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân
Màu hồng, hình đĩa, lõm 2 mặt, không nhân
Phần dưới:đặc quách, đỏ thẫm, chiếm 45% thể tích
Phần trên:lỏng, vàng nhạt, chiếm 55% thể tích
Chất chống đôngmáu5ml *HS: Quan sát hình -GV: Yêu cầu học sinh mô tả thí nghiệm. Nếu học sinh nêu chưa rõ thì giáo viên có thể gợi ý, bổ sung như sau: Cho máu vào trong ống nghiệm 5ml, cho vào chất dung dịch xitrat natri , là chất chống đông để lắng động tự nhiên 3-4 giờ. -GV: Hướng dẫn học sinh quan sát kỹ ống nghiệm sau khi để lắng 3-4 giờ ? Quan sát thấy có hiện tượng gì? *HS: Máu phân tách thành 2 phần, phần trên: lỏng, vàng nhạt, chiếm 55% thể tích, phần dưới: đặc quánh, đỏ thẫm, chiếm 45% thể tích. ?
Tại sao lại có những màu sắc khác nhau? Tại sao phần dưới lại đặc quánh, có chứa yếu tố nào? Để biết được chúng ta cùng quan sát mẫu -GV: Lấy giọt máu ở phần dưới lên tiêu bản đặt dưới kính hiển vi. Cho HS quan sát rồi đối chiếu kết quả ở H13.1SGK. ? Trong tế bào máu gồm có những loại tế bào nào? *HS: Hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu ? Quan sát và nhận xét màu sắc các thành phần của máu trong mẫu và trên hình? *HS: Quan sát mẫu kết hợp hình 13.1 trả lời được: phần trên tiếp giáp với huyết tương là lớp bạch cầu màu trắng đục, phần dưới mới là lớp hồng cầu màu đỏ và có các tiểu cầu. Màu của bạch cầu và tiểu cầu ở mẫu vật thật với hình không giống nhau. ?
Tại sao trên hình, bạch cầu và tiểu cầu có màu xanh tím, còn ở mẫu vật không màu? -GV: có thể gợi ý cho HS: Màu sắc trong hình chỉ có hồng cầu giống màu thực của nó, bạch cầu và tiểu cầu được nhuộm màu bằng các loại thuốc khác nhau, bạch cầu ưa kiềm bắt màu xanh tím khi được nhuộm bằng thuốc nhuộm kiềm tính, khi chưa nhuộm, bạch cầu và tiểu cầu gần như trong suốt. -GV: Cho HS làm bài tập điền từ vào chỗ trống Gọi một vài học sinh trình bày, nêu rõ đặc điểm của từng loại tế bào . Như vậy học sinh tìm ra được thành phần cấu tạo của máu.+ Kết luận vấn đề: Thành phần cấu tạo của máu gồm: - Huyết tương: Lỏng, trong suốt, màu vàng chiếm 55% thể tích máu. - Các tế bào máu: Đặc, đỏ thẫm, chiếm 45 % thể tích, gồm: hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. * Vấn đề 2: Tìm hiểu chức năng của huyết tương và hồng cầu + Đặt vấn đề: Máu có những thành phần như thế. Vậy chức năng các thành phần đó là gì? Sang phần 2 “ Tìm hiểu chức năng của huyết tương và hồng cầu” + Giải quyết vấn đề: -GV: Kiểm tra lại kiến thức cũ có liên quan đến bài học ? Máu thuộc loại mô nào? *HS: Mô liên kết ? Máu có ở đâu trong cơ thể? *HS: Tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể - GV: Yêu cầu HS đọc nội dung ở bảng 13 Các chất
Tỉ lệ - Nước90%Các chất dinh dưỡng: prôtêin, lpit, gluxit, vitamin.Các chất cần thiết khác: hoocmôn, kháng thể,Các muối khoáng.Các chất thải của tế bào: urê, axit uric,..10% Cho biết: ? Trong huyết tương chất nào chiếm nhiều nhất? *HS: Nước chiếm 90% -GV: Yêu cầu HS thảo luận nhóm 3 câu hỏi SGK/43 trong 4 phút Có thể dẫn dắt cho HS từng câu hỏi 1 Câu 1 ?
Khi máu bị mất nước (từ 90%-80%-70%) thì trạng thái máu sẽ như thế nào? *HS: Máu sẽ đặc lại ? Khi máu bị đặc lại thì sự vận chuyển máu trong mạch sẽ như thế nào? *HS: Sẽ khó khăn hơn ? Vậy chức năng đầu tiên của huyết tương là gì? *HS: Duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch. Câu 2 ?
Thành phần chất trong huyết tương (bảng 13) có gợi ý gì về chức năng của nó? *HS: Là môi trường để hòa tan chất dinh dưỡng, vận chuyển chất dinh dưỡng đến tế bào. Câu 3: ? Vì sao máu từ phổi về tim rồi tới các tế bào có màu đỏ tươi, còn máu từ các tế bào về tim rồi tới phổi có màu đỏ thẫm? *HS: -Máu từ phổi về tim đến tế bào có màu đỏ tươi, vì máu mang nhiều O2 nên hồng cầu có Hb (huyết sắc tố) kết hợp với oxi à màu đỏ tươi -Máu từ tế bào về tim đến phổi: đỏ thẩm, vì máu mang nhiều CO2 nên hồng cầu có Hb (huyết sắc tố) kết hợp với CO2 à màu đỏ thẩm -GV: Cho các nhóm báo cáo, nhận xét ý kiến của các nhóm. ?
Cấu tạo hồng cầu có ý nghĩa gì trong sự vận chuyển O2 và CO2? *HS: Lõm 2 mặt tăng diện tích tiếp xúc O2 và CO2, tăng khả năng vận chuyển, không có nhân nhằm tận dụng tối đa Oxi cung cấp cho tế bào cơ thể+ Kết luận vấn đề: Chức năng của huyết tương và hồng cầu là: -Huyết tương: Duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch; vận chuyển các chất dinh dưỡng, các chất cần thiết và các chất thải trong cơ thể. - Hồng cầu có Hêmôlôbin có khả năng kết hợp với O2 và CO2 để vận chuyển từ phổi về tim, tới các tế bào và ngược lại. * -GV: Chúng ta vừa tìm hiểu chức năng của huyết tương và hồng cầu, còn chức năng của Bạch cầu là gì? Bài 14 sẽ tìm hiểu tiếp b.Đối với bài dạy kiến thức sinh lí: Bài 14 “ Bạch cầu- miễn dịch”. Chọn mục I “ Các hoạt động chủ yếu cảu bạch cầu” + Đặt vấn đề: Khi em bị một vết thương nhẹ ở tay, ở vết thương đó sưng lên sau vài ngày thì lành. Vậy nguyên nhân do đâu mà vết thương đó lại lành? Tìm hiểu phần I : “Các hoạt động chủ yếu của bạch cầu”. + Giải quyết vấn đề: -GV: Gọi HS nhắc lại đặc điểm của tế bào bạch cầu ? *HS: Trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân, không có hình dạnh nhất định. ? Có mấy loại tế bào bạch cầu? *HS: Có 5 loại: Bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axit, bạch cầu limphô, bạch cầu mônô. -GV: Hướng dẫn HS QS H 14.1đọc TT SGK/45Ñaïi thöïc baøo Baïch caàu trung tính Baïch caàu trung tính Vi khuaånÑaïi thöïc baøo
OÅ vieâm söng leân Muõi kim Hình 14.1 Sơ đồ hoạt động thực bào ? Đánh số thứ tự quá trình thực bào theo nội dung sau: 1/ Tiêu hóa vi khuẩn 2/ Vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm 3/ Mạch máu nở rộng, bạch cầu chui khỏi mạch máu tới ổ viêm 4/ Bạch cầu hình thành chân giả 5/ Nuốt vi khuẩn *HS: Chọn 2, 3, 4, 5, 1 -GV: Yêu cầu HS QS tranh trình bày toàn bộ quá trình thực bào của bạch cầu *HS:Trình bày và kết luận sự thực bào: Bạch cầu hình thành chân giả, bắt và nuốt các vi khuẩn vào trong tế bào rồi tiêu hóa chúng. -GV: Hướng dẫn HS QS kỹ H 14.1 ? Cho biết xung quanh mũi kim có những yếu tố nào? *HS: Màu đỏ có hình que là vi khuẩn; màu xanh hình cầu nhỏ là các tín hiệu hóa học do tế bào của mô bị tổn thương tiết ra để kích thích phản ứng bảo vệ cơ thể. ? Những loại bạch cầu nào thường tham gia thực bào? *HS: Bạch cầu trung tính và bạch cầu mônô -GV: Các đại thực bào (bạch cầu mônô hay bạch cầu đơn nhân) có kích thước lớn hơn bạch cầu trung tính. ?
Khả năng thực bào của loại bạch cầu nào tham gia thực bào tốt hơn? Vì sao? *HS: Bạch cầu mônô. Vì có kích thước lớn nên nuốt cùng 1 lúc rất nhiều tế bào vi khuẩn và tiêu hóa chúng. ?
Dự đoán xem sau khi thực bào, các bạch cầu sẽ như thế nào? Vì sao em biết? *HS: Bạch cầu sẽ chết, xác bạch cầu có màu trắng (mũ) -GV: Yêu cầu HS QS H14.2 + Thông tin SGK/45 Kháng thể A Kháng thể BKHAÙNG NGUYEÂN AKHAÙNG NGUYEÂN B Hình 14.2 Tương tác kháng nguyên- kháng thể
Cho biết: ? Kháng nguyên là gì? *HS:Phân tử ngoại lai kích thích cơ thể tiết ra kháng thể ? Kháng thể là gì? *HS: Phân tử prôtêin do cơ thể tiết ra để chống lại kháng nguyên. ? Sự tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể theo cơ chế nào? *HS: Cơ chế chìa khóa, ổ khóa ( kháng nguyên nào thì kháng thể đó) ? Cho ví dụ để phân biệt kháng thể và kháng nguyên? *HS: Khi bị rắn cắn + Kháng nguyên: Chất độc trong nọc rắn + Kkáng thể: prôtêin của cơ thể tiết ra nhằm chống lại kháng nguyên -GV: Yêu cầu HS QS H14.3, 14.4 cho biết:Tế bào B tiết kháng thể Các kháng thể Tế bào vi khuẩn bị kháng thể vô hiệu hóa
Hình 14.3 : Sơ đồ tiết kháng thể vô hiệu hóa kháng nguyên Phân tử prôtêin đặc hiệu
Teá baøo nhieãm vi khuaån
Loã thuûng treân maøng teá baøo
Kháng nguyên của vi khuẩn, virút Tế bào nhiễm bị phá hủy
Tuy nhiên trong thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài vào công tác giảng dạy còn ngắn, khả năng của bản thân còn hạn chế nên đề tài vẫn còn thiếu xót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, Ban giám hiệu trường và hội đồng khoa học các cấp để đề tài mang tính khả thi, hiệu quả hơn. Nếu đề tài này được Hội đồng khoa học đánh giá là giải pháp phù hợp với tình hình giáo dục hiện nay, thì trong thời gian tới tôi sẽ áp dụng giải pháp này trong quá trình giảng dạy của mình ở các lớp mà tôi được phân công.NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ SUỐI NGÔ1.Ưu điểm :2.Tồn tại :3.Xếp loại : NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN CHÂU1.Ưu điểm:2.Tồn tại:3.Xếp loại: NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂY NINH1.Ưu điểm:2.Tồn tại:3.Xếp loại: .
File đính kèm:

Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đềsẽ giúp phát triển một số kỹ năng nghiên cứu khoa học hay các kỹ năng cơ bản của sinh viên, học sinh. Vậy phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là gì? áp dụng nó như thế nào sẽ là nội dung Gia sư Đăng Minh chia sẻ trong bài viết này.


I. Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề Là Gì?

*

Việc vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đềchính là giáo viên tạo ra các tình huống có vấn đềnhằm điều khiển các học sính giúp các em phát hiện vấn đề cũng như tự giác, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề đó một cách nhanh nhất, chính xác nhất. Qua đó giúp các em lĩnh hội tri thức và tự mình rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đạt được các mục tiêu học tập tốt nhất. Dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề chính là việc giải quyết vấn đề được nêu ra, các tình huống, tư duy chỉ bắt đầu khi có vấn đề phát sinh mà thôi.

Trong phương pháp này bắt buộc có các vấn đề, tình huống vấn đề, nó chính là một tình huống mà giáo viên đưa tới cho học sinh. Trong đó sẽ có những khó khăn mà các em học sinh không dễ dàng vượt qua, các em phải có quá trình tìm hiểu, phân tích, suy luận mới giải đáp được.

II. Ưu Điểm Của Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề

*

Có thể nói phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề trong toán tiểu học hay các bậc học khác mang những ưu điểm nổi trội. Đặc biệt, ngày càng nhiều trường học áp dụng phương pháp này trong giảng dạy.

Học sinh, thông qua giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra sẽ rèn luyện kỹ năng tư duy, phân tích, đánh giá. Nhờ đó học sinh lĩnh hội được nhiều kiến thức hơn. Không chỉ nằm ở việc tìm ra phương pháp giải quyết mà nó trở thành mục đích dạy và học, mục đích này được cụ thể hóa thành mục tiêu để các em có năng lực trong giải quyết vấn đề. Đây chính là năng lực các em học sinh phải có và hoàn thành tốt để thích ứng với sự phát triển của xã hội.Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề càn giúp rèn luyện tư duy sáng tạo, tư duy phê phán cho mỗi học sinh. Các em trên cơ sở vốn kiến thức và kinh nghiệm sẽ xem xét và đánh giá được các vấn đề cần giải quyết.Nhờ vào việc giải quyết các vấn đề mà các học sinh phát triển được khả năng xem xét, tìm tòi dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong quá trình tìm hiểu vấn đề, các học sinh còn có khả năng làm việc cá nhân, hợp tác làm việc nhóm, tìm tòi và trao đổi hay bàn luận với các bạn cùng nhóm để tìm ra cách thức giải quyết vấn đề nhanh nhất, hiệu quả nhất.

III. Những Hạn Chế Của Phương Pháp Dạy Học Giải Quyết Vấn Đề

*

Tuy có nhiều ưu điểm cũng như đang được ứng dụng rộng tại nhiều trường học trên cả nước. Thế nhưng, phương pháp dạy học giải quyết vấn đề lại có những hạn chế:

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề đòi hỏi các giáo viên phải dành nhiều thời gian tìm hiểu về phương pháp cũng như đòi hỏi năng lực sư phạm tốt, có tư duy, sáng tạo để tạo ra các vấn đề hay các tình huống tốt, tình huống có vấn đề.Một tiết học có thể thực hiện bằng phương pháp học giải quyết vấn đề đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng, mất nhiều thời gian hơn. Bên cạnh đó, nó cần có sự định hướng tốt thì mới đảm bảo hiệu quả.

IV. Quy Trình Thực Hiện

*

Quy tình thực hiện các phương pháp giải quyết vấn đề được chia thành các bước, mỗi bước có nội dung, yêu cầu cụ thể.

1.Bước 1: Thâm nhập và phát hiện vấn đề

Đây là bước đầu tiên để có vấn đề, yêu cầu của bước này là phát hiện vấn đề từ các tình huống gợi vấn đề được đặt ra. Tiếp theo đó là chính xác hóa tình huống, giải thích tình huống để hiểu đúng nhất vấn đề đặt ra. Sau cùng là phát biểu về vấn đề cũng như đặt mục tiêu để giải quyết vấn đề.

2. Bước 2; Tìm cách giải quyết vấn đề

Bước giải quyết vấn đề được cha ra làm các phần chính, mỗi phần có nhiệm vụ, mục tiêu riêng:

Phân tích vấn đề: Trong khâu phân tích vấn đề cần phân tích kỹ lưỡng để tìm ra mối liên hệ giữa các cần tìm và những cái đã biết. Để làm được điều này, cần dựa vào tri thức đã học hoặc liên tưởng tới kiến thức thích hợp.Hướng dẫn học sinh tìm kiếm cách giải quyết: Nhờ việc đề xuất và thực hiện các hướng giải quyết vấn đề, người làm cần thu thập các thông tin, tài liệu, tổ chức các dữ liệu, tri thức hay sử dụng các phương pháp, tính toán suy luận như: đặc biệt hóa, quy lại về quen, tương tự hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến, xem xét các mối liên hệ phục thuộc vào nhau, suy ngược lùi, suy ngược tiến, suy xuôi …..Kiểm tra sự đúng đắn của các giải pháp: Giải pháp giải quyết vấn đề có thể đúng, thể sai, nếu không đúng ta lặp lại khâu phân tích, nếu đúng thì kết thúc vấn đề. Giải pháp khi được tìm ra sẽ có thể tìm kiếm các giải pháp khác và sau đó so sánh để tìm ra giải pháp phù hợp nhất.3 Bước 3. Trình bày giải pháp

Ở bước trình bày giải pháp này, các học sinh phải trình bày, thuyết trình lại toàn bộ vấn đề rồi tới giải pháp. Nếu trong vấn đề là một đề bài có sẵn thì các em không cần trình bày lại nữa.

4. Bước 4: Nghiên cứu sâu thêm giải pháp

Các học sinh tìm hiểu khả năng ứng dụng các kết quả, đề xuất các vấn đề liên quan, khái quát hóa và lật lại vấn đề.

Xem thêm: Read tensei shitara slime datta ken manga online, tensei shitara slime datta ken

V. Một Số Lưu Ý Khi Thực Hiện

*

Các giáo viên bộ môn nên cho học sinh giải quyết cũng như phát hiện vấn đề ở một bộ phận trong nội dung học. Sự trợ giúp của giáo viên là cần thiết nhưng nhiều hay ít lại tùy thuộc độ khó của vấn đề. Điều này giúp học sinh có ý thức trong việc học tập.Các học sinh phải cấu trúc lại cách nhìn với bộ phận tri thức còn lại nó không bằng con đường phát hiện và giải quyết vấn đề. Tùy vào môn học mà tỉ lệ vấn đề học sinh phát hiện cũng như giải quyết so với chương trình học và phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể.Trong phương pháp dạy học giải quyết vấn đề có các tình huống mà phải thỏa mãn các yêu cầu như: Phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với cuộc sống cũng như gần gũi để các em nhanh chóng tìm giai cách giải quyết. Phải có độ dài vừa phải, phải chứa đựng mâu thuẫn cũng như gợi cho học sinh hướng suy nghĩ. Vấn đề hay tình huống đó phải được diễn tả bằng chữ hoặc hình ảnh.Giáo viên cần tổ chức cho học sinh các tình huống, giải quyết cũng như xử lý vấn đề. Các học sinh có thể cùng giải quyết 1 vấn đề, cần có cách giải quyết tối ưu với mỗi học sinh, sử dụng phương pháp động não để học sinh liệt kê các cách giải quyết.Giáo viên đóng vai trò tìm hiểu cách tạo ra các tình huống, gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống đó, cũng đồng thời tạo ra điều kiện để học sinh tự lực giải quyết vấn đề: Lật ngược vấn đề, khái quát hóa, xeys tương tự, giải bài tập mà chưa biết thuật giải trực tiếp, sữa chữa và phát hiện sai lầm, tìm lỗi sai trong lời giải …Phát hiện và giải quyết các vấn đề bằng việc áp dụng các giai đoạn của các quá trình dạy học: Củng cố kiến thức, vận dụng các kiến thức cũng như kỹ năng. Đây là phương pháp áp dụng với mọi học sinh chứ không chỉ học sinh khá giỏi. Đối với các học sinh kém giáo viên cần kèm cặp và hướng dẫn nhiều hơn.